Mary Hopkin – Those Were The Days


(Gene Raskin / RussianTraditional)

Album:  Post Card

Once upon a time, there was a tavern

Where we used to raise a glass or two.

Remember how we laughed away the hours,

Think of all the great things we would do?

Ngày xửa ngày xưa có 1 quán nhỏ ven đường

Nơi chúng ta chén tạc chén thù

Nhớ về những kỉ niệm xưa

Ta đã cười cợt suốt nhiều giờ đồng hồ

Ngẫm lại mọi điều tốt đẹp ta sẽ làm với nhau?

Chorus:

Those were the days, my friend!

We thought they’d never end.

We’d sing and dance forever and a day.

We’d live the life we’d choose.

We’d fight and never lose.

For we were young and sure to have our way!

Di di di di…

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Chúng ta đã nghĩ rằng chúng không bao giờ kết thúc

Ta ca hát và nhảy múa mãi mãi

Chúng ta sống cuộc đời mà ta lựa chọn

Ta chiến đấu và không bao giờ thua cuộc

Đó chỉ là khi chúng ta còn non nớt và tiên quyết trên con đường của chúng ta.

Then, the busy years went rushing by us.

We lost our starry notions on the way.

If, by chance, I’d see you in the tavern,

We’d smile at one another and we’d say,

Khi, những tháng năm bận rộn trôi qua

Ta dần mất đi những mộng tưởng mơ hồ

Nếu, tình cờ, tôi gặp bạn nơi quán nhỏ đấy

Ta sẽ cười với nhau và nói rằng:

Those were the days, my friend!

We thought they’d never end.

We’d sing and dance forever and a day.

We’d live the life we’d choose.

We’d fight and never lose.

Those were the days, oh yes those were the days!

Di di di di…

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Chúng ta đã nghĩ rằng chúng không bao giờ kết thúc

Ta ca hát và nhảy múa mãi mãi

Chúng ta sống cuộc đời mà ta lựa chọn

Ta chiến đấu và không bao giờ thua cuộc

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu, những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Just tonight, I stood before the tavern.

Nothing seemed the way it used to be.

In the glass, I saw a strange reflection.

Was that lonely woman really me?

Chỉ đêm nay thôi, tôi đứng trước quán nhỏ

Không có gì trông giống như nó đã từng giống trước đây

Tôi nhìn vào cốc chỉ thấy 1 ảo ảnh xa lạ

Phải chăng người phụ nữ cô đơn đó chính là tôi?

Those were the days, my friend

We thought they’d never end

We’d sing and dance forever and a day

We’d live the life we’d choose

We’d fight and never lose

Those were the days, oh yes those were the days!

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Chúng ta đã nghĩ rằng chúng không bao giờ kết thúc

Ta ca hát và nhảy múa mãi mãi

Chúng ta sống cuộc đời mà ta lựa chọn

Ta chiến đấu và không bao giờ thua cuộc

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu, những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Through the door, there came familiar laughter.

I saw your face and heard you call my name.

Oh my friend, we’re older but no wiser,

For in our hearts, the dreams are still the same.

Xuyên qua ô cửa vọng tới tiếng cười thân thuộc

Tôi đã thấy gương mặt bạn và nghe được bạn gọi tên tôi

Ôi bạn tôi ơi, chúng ta già đi nhưng không hề khôn ngoan hơn

Nhưng trong tim ta, giấc mơ vẫn mãi như thủa ban đầu.

Those were the days, my friend!

We thought they’d never end.

We’d sing and dance forever and a day.

We’d live the life we’d choose.

We’d fight and never lose.

Those were the days, oh yes those were the days!

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Chúng ta đã nghĩ rằng chúng không bao giờ kết thúc

Ta ca hát và nhảy múa mãi mãi

Chúng ta sống cuộc đời mà ta lựa chọn

Ta chiến đấu và không bao giờ thua cuộc

Tất cả chỉ là những ngày xưa yêu dấu, những ngày xưa yêu dấu hỡi bạn tôi ơi!

Advertisements

thơ tiếng Hàn


Kim So-wol – 김소월

Đêm xuân – 봄밤

봄밤

Đêm xuân (Người dịch: Lê Đăng Hoan)

실버드나무의 거므스렷한 머리결인 낡은 가지에
제비의 넓은 깃나래의 감색 치마에
술집의 창 옆에, 보아라, 봄이 않았지 않은가.

소리도 없이 바람은 불며, 울며, 한숨지워라.
아무런 줄도 없이 설고 그리운 새카만 봄밤
보드라운 습기는 떠돌며 땅을 덮어라.

Trên cành liễu già đen buông mái tóc
Én xinh xinh trong bộ cánh sẫm đen
Xuân đã về bên cửa, hãy nhìn xem!

Gió thổi nhẹ, tiếng thở dài như khóc
Sầu không đâu, đêm xuân nhớ đầy vơi
Và màn sương lơ đãng phủ đất trời

Bài hát bên lạch nước – 개여울의 노래

개여울의 노래

Bài hát bên lạch nước (Người dịch: Lê Đăng Hoan)

그대가 바람으로 생겨났으면!
달 돋는 개여울의 빈 들 속에서
내 옷의 앞자락을 불기나 하지.

우리가 굼벵이로 생겨났으면!
비오는 저녁 캄캄한 영 기슭의
미욱한 꿈이나 꾸어를 보지.

만일에 그대가 바다 난끝의
벼랑에 돌로나 생겨났다면,
둘이 안고 굴며 떨어나지지.

만일에 나의 몸이 불귀신이면
그대의 가슴속을 밤도아 태와
둘이 함께 재 되어 스러지지.

Nếu em sinh ra là gió!
Trên cánh đồng hoang lạch nước lúc trăng lên
Thì em sẽ thổi vào tà áo anh, thổi mãi

Nếu chúng ta sinh ra là ngu dại
Nằm tận cùng trên vách đá biển khơi
Trong đất bờ chiều tối mịt lúc mưa rơi

Nếu như em sinh ra từ hòn đá
Nằm tận cùng trên vách đá biển khơi
Ta sẽ ôm nhau lăn lộn cùng rơi!

Nếu thân anh là quỷ thần hoá lửa
Suốt đêm trường thiêu cháy tim em
Cả hai ta thành tro bụi biến tan.

Bài hát em tôi – 님의 노래

님의 노래

Bài hát em tôi (Người dịch: Lê Đăng Hoan)

그리운 우리 님의 맑은 노래는
언제나 제 가슴에 젖어 있어요

긴 날을 문 밖에서 서서 들어도
그리운 우리 님의 고운 노래는

해지고 저무도록 귀에 들려요
밤들고 잠드도록 귀에 들려요

고이도 흔들리는 노랫가락에
내 잠은 그만이나 깊이 들어요

고적한 잠자리에 홀로 누워도
내 잠은 포스근히 깊이 들어요

그러나 자다깨면 님의 노래는
하나도 남김 없이 잃어버려요

들으면 듣는 대로 님의 노래는
하나도 남김없이 잊고 말아요.

Bài hát trong lành của em thương nhớ
Luôn vang lên trong lồng ngực, trái tim tôi

Đứng trước cửa nhà em, suốt ngày tôi nghe
Bài hát dịu hiền của người tôi nhớ thương
Mặc trời tối, bóng hoàng hôn buông xuống
Đêm dù khuya, trong giấc ngủ vẫn nghe em

Trong giọng hát êm đềm vang trong trẻo
Giấc ngủ tôi như chìm vào ngất ngây
Nằm một mình trên chiếc giường cô tịch
Giấc mơ tôi chìm vào đắm say

Nhưng tỉnh rồi còn đâu nữa
Bài hát em không đọng lại trong tim
Nghe rồi nghe em, bài hát ấy
Để rồi quên, quên hết, chẳng vấn vương

이야기

Chuyện xưa (Người dịch: Lê Đăng Hoan)

고요하고 어두운 밤이 오며는
어스레한 등불에 밤이 오며는

외로움에 아픔에 다만 혼자서
하염없는 눈물에 저는 웁니다.

제 한몸도 예전엔 눈물 모르고
조그마한 세상을 보냈읍니다.

그때는 지난날의 옛 이야기도
아무 설움 모르고 외었읍니다.

그런데 우리 님이 가신 뒤에는
아주 저를 버리고 가신 뒤에는

전날에 제게 있던 모든 것들이
가지가지 없어지고 말았읍니다.

그러나 그 한때에 외어 두었던
옛 이야기뿐만은 남았읍니다.

나날이 짙어가는 옛 이야기는
부질없이 제 몸을 울려 줍니다.

Mỗi lần đêm xuống êm đềm
Bóng đêm đến với ngọn đèn hắt hiu
Cô đơn, buồn bã càng nhiều
Nước mắt rơi với bao điều đớn đau

Ngày xưa có nước mắt đâu
Thế gian bé nhỏ qua mau những ngày
Chuyện xưa người kể mê say
Dửng dưng hờ hững chẳng hay biết gì

Thế rồi người ấy ra đi
Bỏ tôi nàng chẳng nói gì cùng tôi
Tôi quên hết mọi sự đời
Chẳng còn vương vấn một thời xa xưa

Chỉ còn những câu chuyện xưa
Ngày càng đậm nét như vừa hôm qua
Tôi khóc trong nước mắt nhoà
Chuyện xưa càng nhớ càng da diết lòng


Con đường (Người dịch: Vũ Hoàng Linh)

어제도 하로밤
나그네 집에
가마귀 가왁가왁 울며 새었소.

오늘은
또 몇 십리(十里)
어디로 갈까.

산(山)으로 올라갈까
들로 갈까
오라는 곳이 없어 나는 못 가오.

말 마소, 내 집도
정주 곽산(定州郭山)
차(車) 가고 배 가는 곳이라오.

여보소, 공중에
저 기러기
공중엔 길 있어서 잘 가는가?

여보소, 공중에
저 기러기
열십자(十字) 복판에 내가 섰소.

갈래갈래 갈린 길
길이라도
내게 바이 갈 길이 하나 없소.

Ngày hôm qua
Trong quán trọ
Tôi không ngủ được bởi tiếng quạ kêu

Ngày hôm nay
Sẽ còn bao dặm
Trên đường tôi đi, tôi đâu có biết?

Tôi sẽ leo lên đồi
Hay vượt cánh đồng?
Tôi không muốn đến đâu, tôi không thể đi tiếp.

Đừng nhắc tới nhà tôi
Ở Kwaksan, Chongju,
những chuyến tàu và những con thuyền đang đến

Hãy nhìn đàn ngỗng trời
Ở giữa không trung.
Có phải chúng bay xa vì chúng có đường?

Hãy nhìn đàn ngỗng trời
Ở giữa không trung
Tôi đang đứng đây ở giữa ngã ba đường

진달래꽃

Hoa đỗ quyên (Người dịch: Cao Văn Điềm)

나 보기가 역겨워
가실 때에는
말없이 고이 보내 드리오리다.

영변(寧邊)에 약산(藥山)
진달래꽃,
아름 따다 가실 길에 뿌리오리다.

가시는 걸음 걸음
놓인 그 꽃을
사뿐히 즈려* 밟고 가시옵소서.

나 보기가 역겨워
가실 때에는
㉠죽어도 아니 눈물 흘리오리다.

Nếu như nàng quyết dứt áo ra đi
Không còn thiết sống cùng ta nữa
Ta sẽ chiều nàng thôi, nàng ạ!

Ta sẽ lang thang khắp đồi Yaksan
Khắp vùng Yôngbyôn gom từng bông hoa dại
Rồi khắp các đường làng, những bông hoa ta hái

Từng bước chân nàng qua
Trên những cánh hoa ta
Nhẹ nhàng và êm ái

Nếu như nàng quyết dứt áo ra đi
Không còn thiết sống cùng ta nữa
Ta chẳng khóc, nhưng mà ta tàn úa.


못잊어

Không thể quên (Người dịch: Lê Đăng Hoan)

못잊어 생각이 나겠지요
그런대로 한 세상 지내시구려
사노라면 잊힐 날 있으리라.

못잊어 생각이 나겠지요,
그런대로 세월만 가라시구려
못잊어도 더러는 잊히오리다.

그러나 또 한긋 이렇지요,
“그리워 살뜰히 못잊는데
어쩌면 생각이 떠지나요?”

Không thể quên, nỗi nhớ cứ dâng trào,
Cứ nếm trải một thế gian, vẫn thế.
Rồi có ngày, cứ sống, có ngày quên.

Không thể quên, nỗi nhớ cứ dâng trào,
Cứ mong mãi, thời gian trôi, vẫn thế,
Dù thế nào rồi cũng có ngày quên.

Nhưng vẫn thế, không gì thay đổi được,
“Biết làm sao nỗi trìu mến, nhớ thương,
Cứ chập chờn hiển hiện, thể nào quên ?”

후일

Mai ngày (Người dịch: Lê Đăng Hoan)

먼 훗날 당신이 찾으시면
그때에 내 말이 `잊었노라’

당신이 속으로 나무라면
무척 그리다가 잊었노라’

그래도 당신이 나무라면
믿기지 않아서 잊었노라’

오늘도 어제도 아니 잊고
먼 훗날 그때에 `잊었노라’

Mai ngày em có tìm tôi
Thì tôi sẽ nói “quên rồi còn đâu”

Em dù mang nặng tình sâu
“Bởi vì quá nhớ, quá sầu, đành quên”

Nếu còn chưa thoả lòng em
“Tin đâu mà nhớ cho thêm nặng lòng”

Hôm qua dù vẫn còn mong
Thì mai ngày cũng “nhớ mong ích gì”


(Người dịch: Lê Đăng Hoan)

닭 개 짐승조차도 꿈이 있다고
이르는 말이야 있지 않은가,
그러하다, 봄날은 꿈꿀 때.
내 몸에야 꿈이나 있으랴,
아아 내 세상의 끝이여,
나는 꿈이 그리워, 꿈이 그리워.

Loài vật nghe đâu cũng mơ màng
Người đời nói vậy, đúng hay chăng
Khi ngày xuân đến, giấc mơ đến
Hỡi cái đời tôi, mơ có chăng
A, a, thế giới tận cùng
Giấc mơ, tôi nhớ vô cùng, giấc mơ

풀따기 Ngắt cỏ (Người dịch: Lê Đăng Hoan)
우리 집 뒷산에는 풀이 푸르고
숲 사이의 시냇물 모래 바닥은
파아란 풀 그림자, 떠서 흘러요. 

그리운 우리 님은 어디 계신고.
날마다 피어나는 우리 님 생각.
날마다 뒷산에 홀로 앉아서
날마다 풀을 따서 물에 던져요.

흘러가는 시내의 물에 흘러서
내어던진 풀잎은 옅게 떠 갈제
물살이 해적 해적 품을 헤쳐요.

그리운 우리 님은 어디 계신고
가엾은 이 내 속을 둘 곳 없어서
날마다 풀을 따서 물에 던지고
흘러가는 잎이나 맘해 보아요.

Trên đồi cỏ một màu xanh
Dưới dòng suối chảy vòng quanh bụi bờ
Cỏ xanh, đáy cát, lê thê
Bóng hình chìm nổi vật vờ cỏ cây 

Ai xưa ở chốn này đây ?
Nhớ thương cháy bỏng có hay chăng là
Sau đồi giờ một mình ta
Ngày ngày ngắt cỏ vứt ra suối… nhìn !

Mong manh chiếc lá bập bềnh
Lênh đênh cùng nước, dập dềnh hồn tôi

Ai xưa đâu chốn nổi trôi
Biết đâu mà gửi hồn tôi theo cùng
Để đâu nỗi nhớ, niềm mong
Ngày ngày ngắt cỏ gửi lòng tôi theo.

văn hóa Hàn Quốc


효녀 심청

그때 심청이가 눈물을 흘리며 말했습니다.“죄송해요, 아버지. 제가 아버지를 속였어요. 대감님 댁에 일을 하러 가는 것이 아니라, 사실은 공양미 삼백 석을 마련하려고 뱃사람들에게 제물로 제 몸을 팔았어요. 오늘이 바로 떠나는 날이에요.”

심 봉사는 이 말을 듣고 그만 방바닥에 주저앉았습니다.

“그게 정말이냐? 못 간다, 못 가. 어떻게 나에게 물어보지도 않고 네 마음대로 하느냐? 자식을 죽여서 눈을 뜬들 무엇하겠느냐? 아내 죽고 자식 잃고 눈뜨는 게 다 뭐냐? 내가 더 살아서 무엇하겠냐? 너하고 나하고 함께 죽자. 네 이 놈들아! 장사도 좋지만, 사람을 사다가 제사를 지내는 데가 아디 있느냐? 여보시오, 동네 사람들. 저런 놈들을 그냥 두고 보시오?”

청이는 울면서 아버지를 끌어안았습니다.

“아버지, 이제는 어쩔 수가 없어요. 제가 죽더라도 아버지는 눈을 떠서 세상을 보시고, 좋은 분을 만나서 잘 사세요.”

심 봉사가 청이를 붙들고 목 놓아 통곡을 했습니다.

“날 죽이고 가거라.그냥은 못 간다. 날 데리고 가거라.너 혼자는 못 간다.”

심청이는동네사람들에게아버지를 부탁하고는 벳사람들을 따라갔습니다. 억수 같이 눈물을 흘리면서 정든 마을을 돌아보았습니다.

“작년 오월 단오에 그네 타고 놀던 일이 꿈만 같구나. 칠월 칠석날 밤에 친구들과 함께 눌기로 한 것은 이제 허사가 되었네. 언제나 다시 볼까? 내 그리운 친구들. 너희는 부모님 모시고 잘 있거라.”

이 모습을 보고 서로 붙들고 울지 않는 사람이 없었습니다.

Lúc đó Tâm Thanh vừa khóc vừa nói rằng:

“ Con xin lỗi cha. Con đã lừa dối cha. Con không phải đi đến nhà quan để làm việc mà là con đã bán thân cho các thủy thủ để làm tế vật, con làm vậy để có được 300 đấu gạo cúng dường. Hôm nay chính là ngày con phải đi rồi.”

Tâm Phụng Sĩ nghe con nói và ngồi bệt xuống sàn:

“ Cái đó là thật sao? Không , con không được đi, không được. Như thế nào mà con không hỏi ý cha mà cứ làm theo ý mình không vậy? Con cái chết rồi thì mắt sáng để làm gì hả? Vợ chết con cũng mất thì mắt sáng để làm gì hả? Cha sống thêm biết làm sao đây? Cha cùng chết với con. Mấy cái thằng xấu xa kia. Buôn bán thì cũng tốt nhưng ở đâu lại có cái kiểu mua người rồi làm đám tang cho người như thế này? Ới bà con ơi, cứ để yên cho những thằng như vầy sao? ”

Nàng Thanh vừa khóc vừa ôm lấy cha:

“ Cha ơi, bây giờ con cũng không còn cách nào khác. Dù con có chết đi nhưng cha hãy mở mắt nhìn thế gian này nha, cha hãy gặp 1 người tốt và sống hạnh phúc với người đó đi.”

Tâm Phụng Sĩ giữ chặt Thanh và gào khóc:

“ Con giết cha đi rồi đi. Con không thể cứ đi như vậy được. Con hãy dẫn cha theo với. Con không thể đi 1 mình được.”

Tâm Thanh gửi gắm cha mình cho những người hàng xóm rồi đi theo những người thủy thủ. Nàng vừa khóc như mưa vừa hồi tưởng quá khứ trong tim mình:

“ Đoan Ngọ năm ngoái mình chơi xích đu dường như chỉ là 1 giấc mơ mà thôi. Đêm Thất Tịch cùng bạn bè vui chơi đã là chuyện hão huyền. Không biết chừng nào mình mới thấy lại những cảnh như vậy được đây? Các bạn yêu dấu ơi, các bạn phải sống tốt để phụng dưỡng cha mẹ nha.”

Nhìn bộ dạng của nàng như vậy mọi người ai cũng níu chặt nhau khóc lóc.

단군 신화

하늘의 임금 환인에게는 환웅이라는 아들이 있었다. 환웅은 하늘 나라에서 인간 세계를 내려다보곤 핬다. 환웅은 땅에서 힘들게 살아가는 사람들을 위해, 인간 세계로 가서 사람들을 도와주기로 했다. 환웅은 바람, 비, 구름의 신들을 거느리고 조선의 태백산(지금의 백두산)으로 내려왔다. 사람들은 태백산에 있는 큰 박달나무를 신단수라 부르고 환웅에게 제사를 지냈다. 환웅이 사람들을 돌보아 주자 사람들은 행복한 생활을 할 수 있었다.

어느 날, 태백산에 살고 있던 곰과 호랑이가 사람이 되고 싶어 신단수 아래에서 간절하게 기도를 하였다.

“제발 저희가 시람이 될 수 있게 도와주세요.”

곰과 호랑이의 기도를 들은 환웅은 그들에게 마늘과 쑥을 주면서 이것을 먹고 백일 동안 동굴에서 나오지 않으면 사람이 될 것이라고 말했다. 곰과 호랑이는 기뻐하며  쑥과 마늘을 가지고 동굴 속으로 들어갔다. 그러나 호랑이는 며칠을 견디지 못하고 동굴 박으로 뛰쳐나가고 말핬다. 동굴 속에서 마늘과 쑥만 먹고 지낸 지 21일째 되는 날 곰은 자신이 처녀로 변했다는 것을 알았다.

그리하여 동굴 밖으로 나가 사람들과 살고자 하였으나, 사람들은 그녀를 웅녀라 부르면서 같이 어울리지 않았다. 웅녀가 다시 환웅에게 기도를 드려 함께 살 남자를 간청하자, 환웅은 사람의 모습으로 나타나 그녀와 결혼하였다. 얼마 후 웅녀는 아들을 낳았는데, 이가 바로 단군 왕검이다. 단군 왕검은 기원전 2333년 평양을 수도로 하여 조선을 건국하였다.

Thần thoại Đàn Quân

Hoàn Hùng là con trai của vị vua cai quản bầu trời Hoàn Nhân. Hoàn Hùng từ trên trời bay xuống thế giới của loài người. Sau khi đến thế giới loài người thì Hoàn Hùng đã quyết định giúp đỡ con người vì những người sống khổ sở trên mặt đất. Hoàn Hùng dẫn dắt các  vị thần gió, mưa, mây và bay xuống từ núi Thái Bạch của Triều Tiên ( nay là núi Bạch Đầu ). Mọi người gọi cây Phác Đạt ở núi Thái Bạch là “thần đàn thụ” và dâng nó cho Hoàn Hùng. Vì Hoàn Hùng luôn chăm lo cho mọi người nên họ có thể sống 1 cuộc sống rất hạnh phúc.

1 ngày nọ con gấu và con hổ sống trên núi Thái Bạch muốn hóa thành người nên dến dưới gốc “thần đàn thụ” khẩn cầu:

“xin làm ơn hãy giúp chúng con trở thành người đi ạ”

Hoàn Hùng nghe được lời cầu nguyện của hổ và gấu, ông cho chúng tỏi và ngải và nói với chúng rằng hãy ăn những thứ này và trong vòng 100 ngày nếu không ra khỏi hang thì sẽ có thể trở thành người. Hổ và gấu rất vui mừng mang tỏi và ngải vào hang. Nhưng mà con hổ không chịu đựng nổi vài ngày và chạy ra khỏi hang. Con gấu ở trong hang chỉ ăn tỏi và ngải đến ngày thứ 21 thì biến thành 1 cô gái.

Và cô đi ra khỏi hang và chung sống với con người nhưng mọi người thì gọi cô ấy là “hùng nữ” và sống không hòa hợp với cô. Hùng nữ đến van xin Hoàn Hùng 1 người đàn ông có thể sống cùng với mình, Hoàn Hùng hóa thành hình dạng con người và đã kết hôn với cô gái đó. Không bao lâu sau thì hùng nữ sinh ra 1 người con trai, gọi là Đàn Quân Vương Kiệm. Đàn Quân Vương Kiệm đã lập nên quốc gia Triều Tiên có thủ đô là Bình Nhưỡng năm 2333 trước công nguyên.

효와 속담

한국은 예로부터 ‘동방예의지국’이라 불려 왔다. 조선 시대부터 유교 문화의 영향을 받아 효를 모든 것의 근본으로 여기고 예의를 중시했기 때문이다. ‘찬물도 위아래가 있다’는 속담은 야기서 생겨났다. 이 말은 윗사람과 아랫 사람의 차이가 분명히 존재하므로, 모든 일에서 윗사람이 먼자라는 뜻이다.

‘신체발부수지부모’라는말은신체의모든것은 부모로부터 받은 것이므로 이를 온전히 보존하는 것이 가장 중요하다는 의미이다. 즉, 자신의 건겅을 지키는 것이 효의 기본이요, 으뜸이라는 뜻이다.

그러나 효를 실천하는 일이 쉽지 않기 때문에 효행의 어려움을 표현한 속담도 있다. ‘내리사랑은 있어도 치사랑은 없다’ 와 ‘긴 병에 효자 없다’는 속담도 있다. ‘내리사랑’이란 부모의 자식 사랑을 뜻하고, ‘치사랑’은 자식의 부모 공경을 말한다. 부모가 자식을 사랑하고 아끼는 만큼 자식이 부모를 공경하는 예는 드물다는 의미이다. ‘긴 병에 효자 없다’는 속담은 말 그대로 비록 효자, 효녀라 할지라도 부모가 오랫동안 편찮으실 때 지치지 않고 끝까지 효도하기가 어렵다는 뜻이다. 이 속담은 어떤 일이든 한 가지를 오래 하다 보면 자연히 상의가 부족해진다는 의미로 쓰이기도 한다

Hàn Quốc từ xưa đã được gọi là “ Đông phương lễ nghi chi quốc ”. Từ thời đại Triều Tiên thì do ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo mà người ta coi trọng lễ nghi căn bản của tất cả mọi thứ. Câu “ Nước lã cũng có trên có dưới ” là câu thành ngữ phát sinh ra từ việc này. Lời này có nghĩa là luôn tồn tại khoảng cách rõ ràng giữa người lớn tuổi và người trẻ tuổi, tất cả mọi việc đều phải nhường cho người lớn trước.

Câu “ Thân thể phát phu thụ chi phụ mẫu ” mang ý nghĩa quan trọng nhất là mọi thứ thuộc về thân thể  của chúng ta đều là thứ nhận được từ cha mẹ nên ta cần gìn giữ sao cho chúng được vẹn nguyên, lành lặn. Tức là, việc giữ gìn sức khỏe của bản thân ta chính là cái căn bản của đạo hiếu, đây là hàm ý cao nhất của câu.

Nhưng mà việc thực hiện đạo hiếu trong thực tế thì không dễ chút nào nên cũng có các câu thành ngữ biểu hiện sự khó khăn của nó.  Câu“ Dù cho có tình yêu cho đi cũng không có tình yêu nhận vào ”( Cha mẹ dù có yêu thương con cái bao nhiêu thì con cái khó mà yêu thương cha mẹ được nhiều như vậy ) và “ Không có hiếu tử khi đau ốm dài ngày ” là ví dụ cho sự khó khăn đó.  Câu “ Tình yêu cho đi ” mang nghĩa là tình yêu của cha mẹ với con cái, “ Tình yêu nhận vào ” là sự cung kính cha mẹ của con cái. Cha mẹ yêu thương và quí trọng con cái bao nhiêu thì ít có đứa con nào cung kính cha mẹ được bằng dường ấy. Câu “ Không có hiếu tử khi đau ốm dài ngày ” là câu thành ngữ có nghĩa là cho dù có là hiếu tử, hiếu nữ đi chăng nữa thì khi cha mẹ đau yếu dài ngày thì  khó mà làm tròn đạo hiếu cho tới cùng được. Câu thành ngữ này đuọc sử dụng với ý nghĩa là bất cứ việc gì nếu cứ tiếp tục trong thời gian dài thì tự nhiên sẽ thiếu đi thành ý ban đầu.

( 내리사랑은 있어도 치사랑은 없다 : 부모가 자식을 사랑하는 만큼 자식이 부모를 사랑하기는 어렵다는 말 ).